Thị trường EU/Anh giảm cầu: Doanh nghiệp xuất khẩu phải làm gì?
Nhập khẩu tại EU và Anh suy giảm nhiều quý liên tiếp. Trước biến động cầu, doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động tái cấu trúc để giữ nhịp tăng trưởng năm 2026.
Tín hiệu giảm tốc từ thị trường châu Âu
Thị trường Liên minh châu Âu (EU) và Vương quốc Anh, hai điểm đến quan trọng của hàng hóa Việt Nam đang phát đi những tín hiệu kém tích cực. Các số liệu chính thức cho thấy cầu nhập khẩu tại hai thị trường này suy giảm trong nhiều quý liên tiếp, phản ánh sự chững lại của tiêu dùng và sản xuất trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động.
Theo Cơ quan Thống kê châu Âu Eurostat, đơn vị trực thuộc Ủy ban châu Âu có chức năng công bố dữ liệu thống kê chính thức của 27 quốc gia thành viên, trong quý IV/2025, nhập khẩu hàng hóa của EU giảm 1,4% so với quý trước, trong khi xuất khẩu giảm 0,8%. Đây là quý thứ ba liên tiếp thương mại hàng hóa của EU ghi nhận xu hướng suy giảm.

Liên minh châu Âu (EU) luôn là thị trường lớn và quan trọng với những sản phẩm thủy sản chủ lực như tôm, cá tra và cá ngừ từ Việt Nam. Ảnh: VASEP
Eurostat cũng cho biết mức giảm không chỉ do biến động giá mà còn do khối lượng giao dịch thực tế đi xuống, phản ánh cầu nội địa và cầu nhập khẩu đều yếu hơn so với giai đoạn trước.
Song song với đó, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) trong Bản tin Kinh tế năm 2025 nhận định xuất khẩu hàng hóa của khu vực đồng Euro đã giảm trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 8/2025. Chỉ báo đơn đặt hàng xuất khẩu mới trong lĩnh vực sản xuất duy trì ở mức thấp, cho thấy doanh nghiệp châu Âu thận trọng hơn trước triển vọng nhu cầu toàn cầu.
Khi đơn hàng mới giảm, nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện và hàng tiêu dùng từ bên ngoài khu vực cũng suy giảm theo, tạo hiệu ứng lan tỏa tới các quốc gia xuất khẩu.
Bên cạnh đó, tại Vương quốc Anh, theo số liệu của Văn phòng Thống kê Quốc gia Anh (ONS), trong tháng 12/2025, nhập khẩu hàng hóa từ EU giảm 2,4% so với tháng trước, tương đương giảm khoảng 0,7 tỷ bảng Anh. Tổng nhập khẩu hàng hóa của Anh trong quý IV/2025 cũng giảm so với quý trước đó.
Diễn biến này phản ánh nhu cầu trong nước suy yếu và môi trường thương mại vẫn chịu tác động từ các yếu tố hậu Brexit, chi phí tài chính cao và tâm lý thận trọng của doanh nghiệp.
Ở bình diện toàn cầu, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã hạ dự báo tăng trưởng thương mại hàng hóa năm 2026 xuống mức rất thấp so với trung bình nhiều năm, cho thấy xu hướng giảm tốc không chỉ giới hạn ở châu Âu.
Xuất khẩu Việt cần tái cấu trúc bền vững
Trong bối cảnh đó, xuất khẩu Việt Nam bước vào năm 2026 với cả thuận lợi và thách thức đan xen. Phát biểu tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu năm 2026, ông Nguyễn Anh Sơn - Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) đã chỉ ra những thành quả nổi bật, đồng thời đặt vấn đề về những thách thức phía trước.
“Năm 2025, bối cảnh thương mại quốc tế diễn biến khó lường do tác động của căng thẳng địa chính trị, chính sách thuế quan của các nước lớn; trong nước, tình hình thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp, vượt mức lịch sử. Song, với sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng hướng, đồng bộ, quyết liệt của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước; sự vào cuộc kịp thời, hiệu quả của các Bộ, ngành, địa phương, cùng với những nỗ lực vượt bậc của cộng đồng doanh nghiệp và người dân, tình hình kinh tế - xã hội của nước ta tiếp tục khởi sắc”, ông Nguyễn Anh Sơn nói.

Trước biến động cầu, doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động tái cấu trúc để giữ nhịp tăng trưởng năm 2026. Ảnh: Cấn Dũng
Ông cho biết tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 đạt 930,1 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm 2024; cán cân thương mại thặng dư 20 tỷ USD; Việt Nam duy trì xuất siêu 10 năm liên tiếp kể từ năm 2016.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận, xuất khẩu Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức mới trong bối cảnh môi trường thương mại toàn cầu thay đổi nhanh và kém dự báo hơn.
Theo ông Nguyễn Anh Sơn, môi trường thương mại toàn cầu đang thay đổi nhanh và khó lường; chủ nghĩa bảo hộ gia tăng; việc sử dụng công cụ thuế quan ngày càng nhiều khiến môi trường thương mại kém dự đoán và kém ổn định hơn. Bên cạnh đó, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam còn tồn tại những yếu tố chưa thực sự bền vững như phụ thuộc vào khu vực FDI, phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu, năng lực thiết kế, marketing quốc tế và xây dựng thương hiệu còn hạn chế.
Năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi là năm đầu tiên triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030. Theo Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 08/01/2026, mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm 2026 khoảng 15 - 16%, tương đương kim ngạch 546 - 550 tỷ USD.
“Hoạt động xuất khẩu cần tiếp tục phát huy vai trò là động lực then chốt, đồng thời phải chuyển mạnh từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, hiệu quả và bền vững, gắn với nâng cao giá trị gia tăng, hàm lượng công nghệ và năng lực tự chủ của nền kinh tế”, ông Nguyễn Anh Sơn nhấn mạnh.
Trong bối cảnh cầu tại EU và Anh suy yếu, yêu cầu chuyển dịch sang tăng trưởng chiều sâu không còn là định hướng dài hạn mà trở thành yêu cầu cấp bách. Khi thị trường thu hẹp, cạnh tranh sẽ gay gắt hơn, các tiêu chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn xanh tiếp tục được siết chặt, biên lợi nhuận bị ép xuống.
Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn thị trường, tăng tỷ lệ nội địa hóa, đầu tư cho thương hiệu và khai thác hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do nhằm tối ưu hóa lợi thế thuế quan.
EU và Anh giảm cầu là một thực tế khách quan của chu kỳ kinh tế. Nhưng chính trong giai đoạn khó khăn, năng lực tự chủ và chiều sâu giá trị nội địa của doanh nghiệp xuất khẩu sẽ quyết định khả năng duy trì đà tăng trưởng và thực hiện mục tiêu xuất khẩu đầy tham vọng của năm 2026.
Năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm đầu tiên triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030, mở đầu kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Để hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, hoạt động xuất khẩu tiếp tục được xác định là động lực then chốt của tăng trưởng. Điều này đặt ra yêu cầu đối với cộng đồng doanh nghiệp phải chuyển mạnh từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, hiệu quả và bền vững; nâng cao giá trị gia tăng, hàm lượng công nghệ và năng lực tự chủ của nền kinh tế.









