A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Nghị quyết 10-NQ/TW tạo nền tảng cho chiến lược FDI chất lượng cao

Nghị quyết 10-NQ/TW không chỉ hướng tới thu hút dòng vốn từ các nền kinh tế phát triển mà còn đặt mục tiêu nâng cao năng lực tự chủ, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

GS.TSKH. Nguyễn Mại, Chủ tịch danh dự Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE) trao đổi với phóng viên Báo Công Thương xung quanh vấn đề này.

Nghị quyết mới về FDI: Bước chuyển trong tư duy phát triển

- Sau gần 40 năm thu hút FDI, đâu là những thay đổi quan trọng nhất khiến Việt Nam phải điều chỉnh chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới, thưa ông?

GS.TSKH. Nguyễn Mại: Việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10-NQ/TW về thu hút đầu tư nước ngoài vào thời điểm hiện nay không chỉ mang ý nghĩa điều chỉnh chính sách đơn thuần mà còn phản ánh yêu cầu đổi mới tư duy phát triển trong bối cảnh Việt Nam bước sang một giai đoạn tăng trưởng mới.

GS.TSKH. Nguyễn Mại, Chủ tịch danh dự Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE). Ảnh: Trọng Hiếu/Tạp chí Nhà đầu tư

GS.TSKH. Nguyễn Mại, Chủ tịch danh dự Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE). Ảnh: Trọng Hiếu/Tạp chí Nhà đầu tư

Cách đây khoảng 7 năm, Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 được ban hành với mục tiêu nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030. Đây là dấu mốc quan trọng khi lần đầu tiên Bộ Chính trị đặt vấn đề chuyển đổi mô hình thu hút FDI từ chạy theo số lượng sang chú trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng.

Nếu như trước đây, mục tiêu hàng đầu là thu hút càng nhiều vốn đầu tư càng tốt thì Nghị quyết 50 đã định hướng rõ việc ưu tiên các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, dịch vụ hiện đại và các ngành có khả năng lan tỏa mạnh tới nền kinh tế. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã xây dựng Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021 - 2030, tạo khung chính sách cho quá trình lựa chọn dòng vốn chất lượng cao.

Tuy nhiên, để hiểu đầy đủ ý nghĩa của Nghị quyết mới, cần nhìn lại chặng đường gần 40 năm thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam. Khi Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành năm 1987, nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn đầu đổi mới với nguồn lực hạn chế, năng lực sản xuất còn thấp và nhu cầu vốn cho phát triển rất lớn. Trong bối cảnh đó, FDI trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Từ đầu những năm 1990, cùng với quá trình mở cửa và hội nhập, dòng vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh, góp phần tạo nên giai đoạn tăng trưởng ấn tượng của nền kinh tế. Đây cũng là thời kỳ Việt Nam liên tục hoàn thiện môi trường đầu tư, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và tham gia ngày càng sâu vào các thể chế kinh tế khu vực và quốc tế.

Điều đáng chú ý là tác động của FDI không chỉ dừng ở việc bổ sung nguồn vốn. Quan trọng hơn, khu vực đầu tư nước ngoài đã tạo ra hiệu ứng lan tỏa đối với nền kinh tế trong nước, thúc đẩy cải cách thể chế, nâng cao năng lực quản trị và mở rộng không gian phát triển cho khu vực kinh tế tư nhân.

Những thay đổi trong chính sách đầu tư từ đầu thập niên 1990 đã cho phép doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu hơn vào hoạt động hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài. Cùng với Luật Doanh nghiệp năm 1999 và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực tư nhân từng bước trưởng thành, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế.

Nếu như những năm đầu đổi mới, số lượng doanh nghiệp còn rất hạn chế thì đến nay Việt Nam đã có gần một triệu doanh nghiệp đang hoạt động. Nhiều tập đoàn tư nhân trong nước đã đủ năng lực triển khai các dự án quy mô lớn, công nghệ cao và hạ tầng hiện đại, những lĩnh vực trước đây gần như chỉ dành cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Sự trưởng thành của khu vực doanh nghiệp trong nước chính là một trong những cơ sở quan trọng để Việt Nam thay đổi cách tiếp cận đối với FDI. Khi năng lực nội sinh còn hạn chế, mục tiêu hàng đầu là thu hút vốn và công nghệ từ bên ngoài. Nhưng khi quy mô nền kinh tế đã vượt mốc 500 tỷ USD, trình độ khoa học - công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện đáng kể, yêu cầu đặt ra không còn đơn thuần là thu hút thêm vốn đầu tư.

Điều Việt Nam cần hiện nay là những dòng vốn có khả năng tạo đột phá về công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Nói cách khác, FDI cần được nhìn nhận như một công cụ để nâng cấp nền kinh tế, thay vì chỉ là nguồn lực bổ sung cho tăng trưởng.

Bối cảnh quốc tế cũng đang tạo ra những yêu cầu mới. Cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng gay gắt; các tiêu chuẩn về môi trường, phát triển bền vững và phát thải carbon ngày càng khắt khe; trong khi các tập đoàn đa quốc gia đang tái cấu trúc chuỗi cung ứng trên phạm vi toàn cầu. Điều đó đòi hỏi Việt Nam phải có chiến lược thu hút đầu tư với tầm nhìn dài hạn hơn và tiêu chí lựa chọn khắt khe hơn.

Thực tế cho thấy Nghị quyết 50 đã tạo ra bước chuyển tích cực trong tư duy và chính sách thu hút FDI. Tuy nhiên, những yêu cầu của giai đoạn phát triển mới đòi hỏi một khuôn khổ định hướng mới, phù hợp với mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Vì vậy, Nghị quyết mới không chỉ là sự kế thừa Nghị quyết 50 mà còn là bước phát triển tiếp theo trong tư duy thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam. Trọng tâm không còn là thu hút bằng mọi giá, mà là lựa chọn những dự án có hàm lượng công nghệ cao, khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước, đóng góp cho đổi mới sáng tạo và hỗ trợ thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.

- Trong bối cảnh mới, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết mới về thu hút đầu tư nước ngoài có ý nghĩa như thế nào đối với phát triển kinh tế của Việt Nam, thưa ông?

GS.TSKH. Nguyễn Mại: Trong bối cảnh tình hình chính trị, kinh tế thế giới diễn biến nhanh và khó lường, Việt Nam không chỉ cần nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế mà còn phải chủ động thích ứng với các biến động bên ngoài. Đồng thời, với cam kết đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, Việt Nam cũng có trách nhiệm cùng cộng đồng quốc tế ứng phó với biến đổi khí hậu và thúc đẩy phát triển bền vững.

Nghị quyết 10-NQ/TW chuyển từ thu hút vốn sang kiến tạo hệ sinh thái đầu tư chất lượng cao. Ảnh minh họa

Nghị quyết 10-NQ/TW chuyển từ thu hút vốn sang kiến tạo hệ sinh thái đầu tư chất lượng cao. Ảnh minh họa

Vì vậy, việc Bộ Chính trị ban hành một Nghị quyết mới về thu hút đầu tư nước ngoài có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nghị quyết sẽ đóng vai trò định hướng chiến lược, tạo cơ sở để Quốc hội và Chính phủ tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế, chính sách và môi trường đầu tư phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Bên cạnh đó, Nghị quyết 10-NQ/TW cũng là cơ sở quan trọng để đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương, góp phần hỗ trợ quá trình cải cách bộ máy hành chính, đổi mới phương thức quản trị và chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng chất lượng, hiệu quả và bền vững hơn.

Điểm nghẽn không nằm ở chủ trương mà ở thực thi

- Theo ông, đâu là yếu tố quyết định để hiện thực hóa các mục tiêu mà Nghị quyết 10-NQ/TW đề ra?

GS.TSKH. Nguyễn Mại: Tôi cho rằng vấn đề quan trọng nhất hiện nay là thực thi. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có bước tiến đáng kể trong hoàn thiện thể chế. Nhiều luật mới được ban hành, nhiều quy định không còn phù hợp được sửa đổi. Đặc biệt, tốc độ thể chế hóa các chủ trương của Đảng đã nhanh hơn rất nhiều so với trước đây. Nếu trước kia một nghị quyết phải mất từ hai đến ba năm mới được chuyển hóa đầy đủ thành luật pháp, nghị định và các văn bản hướng dẫn thì hiện nay quá trình này đã được rút ngắn đáng kể. Đây là tín hiệu rất tích cực.

Tuy nhiên, từ chính sách đến thực tiễn vẫn còn khoảng cách nhất định. Nhiều thủ tục hành chính đã được cắt giảm nhưng doanh nghiệp vẫn phản ánh còn tồn tại những quy trình phức tạp, phát sinh chi phí và kéo dài thời gian thực hiện. Trong đó, hiệu quả thực thi phụ thuộc vào hai yếu tố cốt lõi là bộ máy và con người.

Tinh gọn bộ máy là cần thiết, nhưng điều quan trọng hơn là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực, trách nhiệm, tinh thần phục vụ và đạo đức công vụ. Nếu không giải quyết tốt khâu này thì những chủ trương đúng đắn rất khó tạo ra kết quả như mong muốn. Theo tôi, việc tăng cường trách nhiệm người đứng đầu, nâng cao hiệu quả giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình cần tiếp tục được thực hiện quyết liệt hơn nữa.

Xin cảm ơn ông!

"Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không còn nằm ở chủ trương hay định hướng phát triển, mà nằm ở chất lượng thực thi. Muốn thu hút FDI chất lượng cao, Việt Nam phải tiếp tục cải thiện thể chế, nâng cao năng lực đội ngũ thực thi và xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, cạnh tranh" - GS.TSKH. Nguyễn Mại.

Nguyễn Hạnh
Thích

Tin liên quan

Đối tác tin cậy