
Người dân yên tâm gắn bó với rừng
Trước đây, cuộc sống gia đình ông Giàng A Sáu ở thôn Khấu Ly, xã Phình Hồ, tỉnh Lào Cai còn nhiều khó khăn, nguồn thu chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp.
Điều kiện địa hình đồi núi, khí hậu khắc nghiệt khiến việc lựa chọn cây trồng phù hợp để phát triển kinh tế không dễ dàng.
Sau quá trình tìm hiểu, ông Sáu lựa chọn kết hợp bảo vệ rừng với phát triển 5ha thảo quả.
Nhờ phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng địa phương, diện tích cây trồng này mang lại nguồn thu khoảng 200 triệu đồng mỗi năm, giúp gia đình từng bước ổn định cuộc sống, có thêm điều kiện đầu tư sản xuất.
“Trước đây, kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn, thu nhập không ổn định. Từ khi kết hợp trồng rừng với trồng thảo quả, cuộc sống dần được cải thiện.
Nhờ nguồn thu từ thảo quả, gia đình có điều kiện phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống và yên tâm gắn bó với rừng”, ông Sáu chia sẻ.

Điều đáng chú ý trong mô hình của gia đình ông Sáu là nguồn thu không chỉ đến từ diện tích cây trồng mà còn gắn với việc duy trì hệ sinh thái rừng.
Khi người dân có sinh kế ổn định từ những diện tích rừng được quản lý, bảo vệ đúng quy định, áp lực khai thác tài nguyên rừng để trang trải cuộc sống cũng có điều kiện giảm bớt.
Không chỉ gia đình ông Sáu, ở Phình Hồ, nhiều hộ dân cũng đang nâng cao thu nhập nhờ lựa chọn cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên.
Tại thôn Làng Nhì, gia đình ông Hờ Gàng Lồng có 3,1ha thảo quả, thu nhập khoảng 70 triệu đồng/năm; gia đình ông Hờ Tráng Thào có 1,5ha sơn tra, thu về trên 40 triệu đồng/năm; còn gia đình ông Hờ Tồng Chi trồng 1,5ha sa nhân tím, cho thu nhập bình quân khoảng 60 triệu đồng/năm.
Theo thống kê của UBND xã Phình Hồ, diện tích các loại cây dược liệu và cây trồng có giá trị kinh tế liên quan trên địa bàn đạt trên 570ha.
Trong đó, sơn tra có trên 350ha, sản lượng ước đạt 270 tấn/năm; thảo quả khoảng 200ha, sản lượng khoảng 200 tấn quả tươi/năm; sa nhân tím trên 20ha, sản lượng ước đạt khoảng 20 tấn quả tươi/năm.

Ông Nguyễn Thành Hưng - Bí thư Đảng ủy xã Phình Hồ cho biết, địa phương xác định phát triển cây dược liệu là một trong những hướng khai thác lợi thế tự nhiên.
Đảng ủy xã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền cụ thể hóa chủ trương của tỉnh bằng những nhiệm vụ phù hợp với thực tế; vận động người dân lựa chọn cây trồng có giá trị, chăm sóc diện tích hiện có, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và gắn phát triển sản xuất với quản lý, bảo vệ rừng.
Theo ông Hưng, phát triển kinh tế phải đi đôi với giữ gìn tài nguyên thiên nhiên. Bởi rừng không chỉ cung cấp lâm sản mà còn giữ đất, điều tiết nguồn nước, hạn chế xói mòn, sạt lở và bảo vệ môi trường sống của cộng đồng dân cư vùng cao.
Phát triển dược liệu phải đi cùng bảo tồn tài nguyên
Ghi nhận tại Púng Luông, hiện toàn xã có khoảng 57 loài cây dược liệu. Tổng diện tích dược liệu trồng hơn 2.340ha, trong đó sơn tra khoảng 1.786,8ha, thảo quả 525,3ha và sa nhân 19ha.
Điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng cùng diện tích đất lâm nghiệp chiếm hơn 70% diện tích tự nhiên tạo lợi thế để địa phương phát triển nhiều loại cây dược liệu, trong đó có sa nhân tím, đương quy và một số loài quý có giá trị kinh tế cao.
Tuy nhiên, tiềm năng chưa đồng nghĩa với hiệu quả bền vững. Sản xuất dược liệu ở Púng Luông vẫn còn phân tán; sản phẩm chủ yếu bán tươi hoặc qua sơ chế, chưa có nhiều cơ sở chế biến sâu.

Đầu ra thiếu ổn định khiến người dân còn dè dặt khi đầu tư vào những loại cây đòi hỏi vốn lớn, thời gian chăm sóc dài. Trong khi đó, việc khai thác tự phát còn tạo sức ép lên nguồn dược liệu quý trong tự nhiên.
Ông Phạm Tiến Lâm - Chủ tịch UBND xã Púng Luông cho hay: “Để từng bước khai thác tiềm năng, hình thành vùng dược liệu phù hợp với điều kiện địa phương, xã đã xây dựng Đề án phát triển vùng dược liệu giai đoạn 2025 - 2030, dự kiến phát triển mới hơn 100ha.
Qua đó, hướng tới đa dạng hóa cây trồng có giá trị, tạo cơ sở hình thành vùng nguyên liệu, từng bước nâng cao hiệu quả kinh tế từ đất rừng và sinh kế của người dân”.
Tuy nhiên, mở rộng diện tích mới chỉ là bước đầu. Để dược liệu thực sự trở thành hướng phát triển kinh tế bền vững, việc lựa chọn cây trồng cần căn cứ vào điều kiện sinh thái, khả năng đầu tư, chu kỳ sinh trưởng và nhu cầu thị trường.
Đặc biệt, phát triển dược liệu dưới tán rừng phải tuân thủ quy hoạch, chế độ quản lý đối với từng loại rừng và các quy định của pháp luật.
Việc trồng, chăm sóc, thu hái không được làm suy giảm độ che phủ, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, kết cấu đất và khả năng giữ nước của rừng.

Với những loài có nguy cơ suy giảm trong tự nhiên, bảo tồn gắn với gây trồng hợp pháp cần được đặt lên hàng đầu, tránh khai thác theo phong trào, chạy theo giá trị kinh tế trước mắt mà ảnh hưởng đến tài nguyên rừng lâu dài.
Ở những địa bàn miền núi có địa hình dốc, rừng còn đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ các khe suối, mạch nước và công trình cấp nước sinh hoạt.
Khi thảm thực vật bị suy giảm, đất dễ bị rửa trôi, bồi lấp lòng suối, làm tăng nguy cơ lũ quét, sạt lở và ảnh hưởng đến nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt.
Bởi vậy, phát triển cây dược liệu, cây lâm nghiệp và các mô hình kinh tế dưới tán rừng cần được đặt trong tổng thể quản lý tài nguyên.
Người dân không chỉ được hướng dẫn cách trồng cây để tăng thu nhập mà còn cần được tập huấn kỹ thuật canh tác bền vững, hạn chế sử dụng hóa chất không phù hợp, không lấn chiếm đất rừng, không tự ý mở đường hoặc phát dọn làm thay đổi hiện trạng rừng.
Bảo vệ môi trường từ từng hộ gia đình
Bên cạnh bảo vệ rừng, nguồn nước và phát triển sinh kế, vấn đề vệ sinh môi trường tại các khu dân cư nông thôn, miền núi cũng đặt ra nhiều yêu cầu.

Khi đời sống người dân được cải thiện, hoạt động sản xuất, chăn nuôi và tiêu dùng gia tăng, lượng rác thải sinh hoạt, chất thải chăn nuôi cũng phát sinh nhiều hơn.
Ở những thôn, bản nằm xa trung tâm, địa hình chia cắt, việc tổ chức thu gom, vận chuyển rác thải gặp không ít khó khăn. Nếu không được phân loại, xử lý phù hợp, rác sinh hoạt dễ bị đổ xuống khe suối, ven đường hoặc đốt tự phát.
Chất thải chăn nuôi không được thu gom, xử lý cũng có nguy cơ gây ô nhiễm đất, nguồn nước và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân.
Vì vậy, bảo vệ môi trường cần bắt đầu từ những thay đổi trong từng hộ gia đình.
Các thôn, bản cần duy trì hoạt động tự quản vệ sinh môi trường, vận động người dân phân loại rác tại nguồn, tận dụng chất thải hữu cơ phù hợp để ủ phân, thu gom riêng những loại rác khó phân hủy và bố trí điểm tập kết đúng quy định.

Theo ông Trần Minh Sáng - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai, những năm qua, các địa phương đã triển khai nhiều mô hình thu gom, phân loại và xử lý rác thải sinh hoạt, chất thải chăn nuôi gắn với xây dựng nông thôn mới.
Các tổ tự quản môi trường tại khu dân cư, sự tham gia của hội nông dân và các đoàn thể góp phần đưa hoạt động vệ sinh môi trường trở thành việc làm thường xuyên thay vì chỉ thực hiện trong các đợt ra quân.
Ở vùng cao, nơi nhiều hộ dân sinh sống gần rừng, khe suối và các công trình cấp nước tự chảy, việc giữ vệ sinh môi trường càng có ý nghĩa thiết thực.
Một bãi rác tự phát hay dòng nước thải chăn nuôi chưa qua xử lý có thể ảnh hưởng đến nguồn nước chung của nhiều hộ phía dưới.
Do đó, bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của từng gia đình mà còn là lợi ích chung của cả cộng đồng.


